Những điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2014
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2014

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (số 55/2014/QH13) được Quốc Hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 vàcóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Nhiều chính sách mới được triển khai theo hướng phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế vàbảo vệ môi trường.
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 làsự thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt làNghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phóvới biến đổi khíhậu, tăng cường quản lýtài nguyên vàbảo vệ môi trường.
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 gồm 20 chương và170 điều, tăng 05 chương và34 điều so với Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.
Trên tinh thần cụ thể hóa Điều 43 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người cóquyền được sống trong môi trường trong lành vàcónghĩa vụ bảo vệ môi trường”, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đãkế thừa những nội dung vàcấu trúc cơ bản của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005;khắc phục những hạn chế của những điều khoản còn thiếu tính thực thi;luật hóa những chủ trương, chính sách mới về bảo vệ môi trường;mở rộng vàcụ thể hóa một số nội dung về bảo vệ môi trường;xử lýnhững trùng lặp vàmâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật;tạo tiền đề pháp lýđể xây dựng các nghị định về bảo vệ môi trường vàxây dựng các luật về bảo vệ các thành phần môi trường trong tương lai.
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 cónhiều điểm mới rất quan trọng:
Thứ nhất làquy hoạch bảo vệ môi trường, đây lànội dung hoàn toàn mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Quy định này giúp chúng ta cótầm nhìn tổng thể, dài hạn vàchủ động triển khai công tác bảo vệ môi trường, thực sự gắn bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế, an sinh vàxãhội;làcơ sở điều chỉnh hoặc xây dựng các quy hoạch phát triển khác, đảm bảo phát triển bền vững.
Thứ hai làviệc đánh giámôi trường chiến lược (ĐMC) cógiới hạn hơn, tập trung vào các chiến lược, các quy hoạch;quy định rõkết quả ĐMC phải được xem xét, tích hợp vào nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Luật cũng quy định chỉ có3 nhóm đối tượng phải lập báo cáo đánh giátác động môi trường (ĐTM) vàgiao Chính phủ quy định danh mục các dự án phải lập ĐTM.
Thứ ba làkế hoạch bảo vệ môi trường, một thuật ngữ mới được đưa ra dựa trên cam kết bảo vệ môi trường ở Luật cũ. Tuy nhiên, trong kế hoạch bảo vệ môi trường cónhững khía cạnh mới, tiến bộ hơn vàcóthể dễ dàng áp dụng trong điều kiện xãhội hiện nay.
Thứ tư, xây dựng một chương riêng về ứng phóvới biến đổi khíhậu trong phạm vi điều chỉnh của Luật để đáp ứng các yêu cầu cấp thiết về ứng phóvới biến đổi khíhậu hiện nay, thể chế hóa một số nghị quyết của Đảng về nội dung này.
Thứ năm, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 cómột chương quy định về bảo vệ môi trường biển vàhải đảo. Chương này chỉ quy định những nội dung cơ bản, cótính nguyên tắc, không cósự trùng lặp với những nội dung dự kiến được xây dựng trong Luật Bảo vệ tài nguyên vàmôi trường biển do Bộ Tài nguyên vàMôi trường đang xây dựng.
Thứ sáu, Luật bổ sung các quy định về tăng trưởng xanh, cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững;các quy định mới về bảo vệ môi trường đất, lưu vực sông, không khí, nước. Các khu vực phát triển kinh tế xãhội như khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề đều cócác chế định bảo vệ môi trường. Bổ sung các quy định về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở nghiên cứu, phòng thínghiệm;kiểm soát chất độc Dioxin cónguồn gốc diệt cỏ do Mỹ sử dụng trong chiến tranh;kiểm soát việc sản xuất, nhập khẩu vàsử dụng hóa chất nói chung vàđặc biệt làthuốc bảo vệ thực vật, thúy;bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn;giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phádỡ tàu biển đãqua sử dụng;tái sử dụng chất thải;thời hiệu khởi kiện về môi trường…Bổ sung vàlàm rõhơn trách nhiệm công bố thông tin về môi trường, về tình trạng môi trường, trách nhiệm báo cáo công tác quản lýmôi trường của cơ quan nhànước.
Thứ bảy, bổ sung quy định nội dung quản lýNhànước về bảo vệ môi trường trong một điều riêng;quy định rõtrách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên vàMôi trường, Bộ trưởng vàThủ trưởng các cơ quan ngang Bộ khác thay cho quy định cũ giao cho Bộ, ngành, đặc biệt làtrách nhiệm xây dựng văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường.
Thứ tám, nghĩa vụ vàquyền hạn của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xãhội, xãhội - nghề nghiệp vàcộng đồng dân cư đãđược quy định tại một chương riêng trong Luật. Đồng thời, Luật này quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lýNhànước, chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc bảo đảm quyền của các tổ chức xãhội, xãhội - nghề nghiệp vàcộng đồng dân cư.
Kế thừa vàphát huy những thành công trong công tác bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 làbước tiến để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới, vìsự phát triển bền vững đất nước vàchất lượng cuộc sống của nhân dân.
Hoàng Thị Thanh Hương
Chi cục Bảo vệ môi trường