Thứ hai, ngày 19 tháng 01 năm 2026
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
Thống kê hồ sơ
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Tất cả:

Cập nhật lúc: 05/06/2014

Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy có hiệu lực kể từ ngày 17/8/2014

 Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy cóhiệu lực kể từ ngày 17/8/2014

   Tháng 4/2014, Chủ tịch nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang đãkýban hành Quyết định số 818/2014/QĐ-CTN về việc Việt Nam gia nhập Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy, đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 21/5/1997.

Kèm theo Quyết định 818/2014/QĐ-CTN, Nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam cũng ra Tuyên bố như sau: Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố tự quyết định lựa chọn hình thức phân xử tranh chấp màkhông phụ thuộc vào quyết định của quốc gia liên quan hoặc của bên thứ ba trong quátrình giải quyết tranh chấp.

Việt Nam làquốc gia đầu tiên trong khối ASEAN tham gia Công ước

Theo quy định, Công ước sẽ chính thức cóhiệu lực sau 90 ngày kể từ ngày quốc gia thứ 35 nộp lưu chiểu văn kiện về phêchuẩn, chấp thuận, thông qua hay gia nhập Công ước cho Tổng Thư kýLiên hợp quốc.

Sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước cũng chính làđiều kiện cần để Công ước chính thức có hiệu lực vào ngày 17/8/2014. Việt Nam  là quốc gia thứ 35 nộp lưu chiểu văn kiện gia nhập Công ước cho Tổng Thư kýLiên hợp quốc vàcũng là quốc gia đầu tiên trong khối ASEAN tham gia Công ước (mặc dùđãcó 9/10 quốc gia thành viên bỏ phiếu thuận).

Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy được Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 41 thông qua ngày 21/5/1997 bao gồm 7 phần và37 điều. Công ước này áp dụng cho việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy vàcác biện pháp bảo vệ, bảo tồn vàquản lýcóliên quan đến việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia.

Đây làCông ước toàn cầu đầu tiên điều chỉnh khátoàn diện quan hệ giữa các quốc gia trong việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia với mục đích bảo đảm việc sử dụng nguồn nước liên quốc gia một cách công bằng, hợp lýgiữa thượng lưu vàhạ lưu, việc thực hiện nghĩa vụ không gây hại đáng kể đối với các quốc gia liên quan theo các nguyên tắc vàchuẩn mực chung của quốc tế. Các quy định của Công ước cótính áp dụng bắt buộc đối với các quốc gia làthành viên. Trong trường hợp cómột hay một số quốc gia ven nguồn nước không tham gia Công ước thìcóthể sử dụng các nguyên tắc, biện pháp của Công ước làm cơ sở để đàm phán, đấu tranh hay thỏa thuận giải quyết các vấn đề phát sinh đối với nguồn nước liên quốc gia.

Thúc đẩy quátrình hình thành khung pháp lýsử dụng nguồn nước liên quốc gia

Việc gia nhập Công ước phùhợp với đường lối đối ngoại của Nhànước Công hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam làđộc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác vàphát triển;chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế;chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực.

Mặt khác, Việt Nam nằm ở thượng nguồn vàhạ nguồn các con sông liên quốc gia nhưng chủ yếu làở hạ nguồn các con sông liên quốc gia lớn với khoảng 63% tổng lượng nước trung bình hàng năm được sản sinh từ nước ngoài. Điều này cho thấy, tài nguyên nước của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào việc bảo vệ, khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn.  Vìvậy, việc gia nhập Công ướctạo ra cơ sở pháp lýthuận lợi cho Việt Nam tiến hành đàm phán, kýkết các thỏa thuận song phương, đa phương với các quốc gia cóchung nguồn nước về hợp tác, giải quyết tranh chấp, bất đồng vàxử lýcác vấn đề liên quan đến nguồn nước liên quốc gia, nhất làtrong điều kiện Việt Nam phụ thuộc vào việc khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước của các quốc gia ở thượng nguồn.

Theo các chuyên gia tài nguyên nước: Việc gia nhập Công ước về cơ bản sẽ không làm thay đổi các quyền, nghĩa vụ của Việt Nam trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước đối với các nguồn nước liên quốc gia thuộc phạm vi lưu vực sông MêCông vìcác vấn đề liên quan đến nguồn nước liên quốc gia này sẽ tiếp tục được giải quyết trong khuôn khổ các quy định của Hiệp định hợp tác vàphát triển bền vững lưu vực sông MêCông màViệt Nam làthành viên. Tuy nhiên, khi tham gia Công ước, Việt Nam thể hiện mong muốn tích cực thúc đẩy hợp tác khai thác, sử dụng công bằng, hợp lýnguồn nước liên quốc gia khác như sông Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Bằng Giang, Kỳ Cùng.

Hơn nữa, Việt Nam gia nhập Công ước cũng sẽ góp phần thúc đẩy quátrình hình thành khung pháp lýđiều chỉnh việc sử dụng nguồn nước liên quốc gia trong khu vực Châu Á, đồng thời, tiếp tục khẳng định mạnh mẽ hơn cam kết của Việt Nam đối với những nguyên tắc chung của quốc tế trong việc quản lý, sử dụng, bảo vệ vàphòng, chống các tác hại do nước gây ra cũng như thúc đẩy việc mở rộng, tăng cường hội nhập quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề về tài nguyên nước. 

Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm hiện nay làkhi các quốc gia cóchung nguồn nước với Việt Nam vẫn chưa tham gia Công ước thìcác quy định của Công ước chưa thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước giữa Việt Nam với các nước cóchung nguồn nước. Trong khi đó, thời gian gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn cóchung nguồn nước với Việt Nam đều tăng cường khai thác lợi ích từ nguồn nước liên quốc gia cho phát triển kinh tế - xãhội vàcác xung đột lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn với hạ nguồn trong việc khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia ngày càng rõnét, đang làm hạn chế khả năng các quốc gia trong khu vực cùng tham gia Công ước.

Chính vìvậy, Việt Nam cũng cần phải cókế hoạch, lộ trình cụ thể sẵn sàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, nhất làđối với những quy định về tham vấn trước, ứng phó, khắc phục sự cố vàgiải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại theo quy định của Công ước.

         Nguồn: www.monre.gov.vn

Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC

ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang