Chủ nhật, ngày 13 tháng 09 năm 2026
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
Thống kê hồ sơ
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Tất cả:

Cập nhật lúc: 27/08/2024

Chuyển đổi số ngành Khí tượng Thủy văn trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu

TN&MTTrong những năm gần đây, Việt Nam xảy ra hàng loạt loại hình thiên tai từ bão đến dông lốc, sét, mưa, lũ, lũ quét, sạt lở, nắng nóng,…cócường độ cao vàtần suất bất thường gây ra nhiều thiệt hại về người vàcủa. Các quy luật khíhậu đang ngày càng bị phávỡ gây khókhăn cho công tác cảnh báo, dự báo của ngành Khítượng thủy văn (KTTV). Do đó, đòi hỏi ngành KTTV phải nâng cao vai tròcủa ngành trong phát triển KT-XH bền vững của đất nước.

Trong đó, việc cung cấp các sản phẩm KTTV tới các đối tượng sử dụng trong các ngành các lĩnh vực KT-XH làvôcùng quan trọng. Bởi vậy, các sản phẩm KTTV cần phải đa dạng hơn, thu hút hơn, đi đúng vàđi trúng nhu cầu của xãhội. Các sản phẩm không chỉ sử dụng được màcòn phải sử dụng hiệu quả mang lại lợi ích thiết thực cho các lĩnh vực KT-XH. Các đối tượng sử dụng cần được mở rộng, không chỉ các đối tác truyền thống, các đơn vị nhànước màcần phải mở rộng cho các đối tác tư nhân, các tổ chức phi chính phủ vàcác đối tác làcác công ty nước ngoài.

Chuyển đổi số ngành Khí tượng Thủy văn trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
Quan trắc viên Trạm Khítượng Uông Bí, Quảng Ninh, ghi nhật kýkiểm tra hệ thống trạm quan trắc khítượng tự động tại Trạm Khítượng Uông Bí, Đài KTTC khu vực Đồng bằng vàtrung du Bắc bộ

Lĩnh vực quan trắc: Mạng lưới quan trắc KTTV đãđược đầu tư nâng cấp hiện đại, đồng bộ, chuyển dần từ đo thủ công sang tự động. Trong 5 năm trở lại đây, mạng lưới radar thời tiết đãđược nâng cấp vàlắp mới bao gồm 10 trạm radar hiện đại trải khắp mọi miền đất nước, cùng với mạng lưới đo mưa tự động với hơn 2000 trạm là một trong những bước tiến rõ rệt của ngành KTTV khi áp dụng thành tựu khoa học công nghệ mới, chuyển đổi số. Năm 2019, ngành KTTV Việt Nam đãtriển khai hệ thống siêu máy tính đầu tiên tại Việt Nam (CrayXC40), cho phép đạt năng lực tính toán đạt xấp xỉ 80TFLOPS vàthực hiện bài toán dự báo thời tiết ở quy mô2-3 km cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam vàBiển Đông, dự báo 03 ngày trong thời gian 30 - 40 phút. Đây làmột trong những hệ thống tính toán mạnh trong khu vực Đông Nam Á, tương đương với hệ thống CrayXC40 của Cơ quan khítượng Singapore. Với hệ thống siêu máy tính này, ngành KTTV Việt Nam đã và đang thực hiện đồng hóa số liệu, tích hợp toàn bộ các hệ thống quan trắc thời gian thực, bao gồm vệ tinh, radar, quan trắc bề mặt, đo mưa tự động,…đưa ra các tính toán, phân tích dự báo các hiện tượng thời tiết cực đoan trong tương lai, từ ngày, tuần đến tháng với độ chính xác cao hơn. 

Lĩnh vực thông tin vàdữ liệu: Hệ thống thông tin KTTV hiện nay đãđược đầu tư hiện đại vàkháđồng bộ, từ hệ thống máy chủ, các hệ thống thông tin chuyên ngành;hệ thống kênh thông tin quốc tế (GTS vàWIS);hệ thống mạng riêng luôn đảm bảo sự hoạt động ổn định, thông suốt trong mọi tình huống, nhất làtrong khi cótình hình thời tiết nguy hiểm, phục vụ tốt yêu cầu của công tác dự báo, cảnh báo bão, lũ cũng như truyền tin kịp thời tới các bộ, ngành, địa phương theo quy định;thực hiện phát báo quốc tế số liệu KTTV thời gian thực qua hệ thống viễn thông toàn cầu đảm bảo đúng quy định của Tổ chức Khítượng thế giới (WMO);cơ sở dữ liệu thông tin KTTV đãlưu trữ được nhiều tài liệu mang tính lịch sử, khẳng định chủ quyền đất nước.

Toàn bộ dữ liệu KTTV trong vàngoài nước hiện nay được tích hợp, tổ chức xử lý, lưu trữ, khai thác vàcung cấp theo hướng tập trung, đồng bộ (dữ liệu được tập trung tại Trung tâm dữ liệu ngành KTTV). Hiện nay, ngành KTTV đang xây dựng vàphát triển hệ thống quản lýdữ liệu dùng chung (CDH) cho toàn ngành. Các công tác nghiệp vụ dự báo, cảnh báo KTTV đều sử dụng dữ liệu tại hệ thống CDH này;dữ liệu được chia sẻ đến các đơn vị cấp trên phục vụ công tác điều hành, chỉ đạo về phòng chống thiên tai như Tổng cục phòng chống thiên tai, Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai.

Chuyển đổi số ngành Khí tượng Thủy văn trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
Trạm Định vị sét vàLắp đặt hệ thống ra đa thời tiết

Lĩnh vực dự báo cảnh báo thời tiết, thiên tai: Hệ thống dự báo, cảnh báo KTTV từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo 3 cấp dự báo, công nghệ dự báo, cảnh báo KTTV không ngừng được đổi mới, phát triển. Công nghệ dự báo số đãđược nghiên cứu vàtriển khai ứng dụng nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia vàmột số Đài KTTV khu vực. Một số môhình khu vực phân giải cao như môhình HRM của Đức, WRF của Mỹ, ECMWF của Châu Âu,…cùng với các hệ thống dự báo tổ hợp hạn ngắn vàhạn vừa đãvàđang được vận hành hiệu quả tại Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia. Với việc ứng dụng hệ thống môhình dự báo thời tiết số trị, các đơn vị dự báo nghiệp vụ trực thuộc Tổng cục KTTV đãtiến hành dự báo tới các địa điểm cụ thể như thị trấn, thị xã, thành phố, với khoảng 600 điểm;phát hành bản tin dự báo KTTV đa dạng hơn, thông tin dự báo chi tiết hơn vàtừng bước nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, không khílạnh, đồng thời tăng cường các bản tin dự báo KTTV biển, đặc biệt làthời tiết biển khu vực quần đảo Hoàng Sa vàquần đảo Trường Sa, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước vàphục vụ hiệu quả việc phát triển kinh tế biển. 

Nhờ cóứng dụng chuyển đổi số, đặc biệt ứng dụng các công cụ dự báo cảnh báo thông minh Smartmet, Hệ thống cảnh báo lũ quét sạt lở đất khu vực Đông Nam Á, ngành KTTV đãtiến hành cải tiến, thay đổi, điều chỉnh cả về hình thức vànội dung các bản tin dự báo, cảnh báo theo hướng rõhơn, chi tiết hơn về ảnh hưởng của bão, mưa, lũ, cụ thể như: Bản đồ dự báo bão dễ tham khảo hơn;đãnhận định rõhơn về diễn biến mưa, vùng vàthời gian cógiómạnh, sóng lớn;khu vực các huyện miền núi cónguy cơ lũ quét, sạt lở đất cao;các bản tin dự báo bão, lũ được phát sớm hơn từ 30 phút đến 01 giờ so với trước đây vàchuyển ngay đến các Đài KTTV khu vực, Đài KTTV tỉnh để kịp thời phục vụ địa phương;đưa thông tin dự báo KTTV lên các trang mạng của Tổng cục KTTV, các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương, địa phương vàcác cơ quan chỉ đạo phòng chống thiên tai các cấp để góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai. Đãđưa được cấp độ rủi ro thiên tai vào bản tin qua đónâng cao hiệu quả phục vụ, vàtừng bước tiến tới dự báo dựa trên tác động, cảnh báo dựa trên rủi ro. Các nội dung này đãcập nhật, bổ sung kịp thời, đầy đủ nên được các cấp chính quyền ở Trung ương vàđịa phương ghi nhận, đánh giácao.

Các ứng dụng công nghệ mới, công nghệ số từ quan trắc, truyền tin, dữ liệu vàdự báo KTTV đãgóp phần nâng thời gian dự báo bão, áp thấp nhiệt đới từ 24 giờ lên 36 giờ;đối với nhiều cơn bão cóquỹ đạo ổn định đãdự báo trước từ 60-72 giờ, cảnh báo trước 48-72h các đợt không khílạnh gây rét đậm, rét hại.  

Chuyển đổi số ngành Khí tượng Thủy văn trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu

Công tác nghiên cứu ứng dụng chuyển đổi số vàcác công nghệ trítuệ nhân tạo: Các đơn vị trực thuộc Tổng cục KTTV từ trung ương đến địa phương đãtích cực nghiên cứu vàtừng bước thực hiện ứng dụng AI để hỗ trợ dự báo, cảnh báo KTTV. Cóthể kể đến một số nghiên cứu: Nghiên cứu, ứng dụng trítuệ nhân tạo để nhận dạng, hỗ trợ dự báo vàcảnh báo một số hiện tượng KTTV nguy hiểm;Nghiên cứu xây dựng hệ thống trítuệ nhân tạo ứng dụng trong dự báo xoáy thuận nhiệt đới ở Biển Đông vàảnh hưởng đến Việt Nam hạn đến 3 ngày;Nghiên cứu đổi mới công nghệ dự báo sóng biển, nước dâng do bão thời hạn 24 giờ bằng kỹ thuật xử lýdữ liệu lớn vàhọc máy;Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số mới để dự báo định lượng mưa hạn cực ngắn cho khu vực trung du, miền núi Việt Nam;Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, dự báo, cảnh báo ngập/triều đôthị dựa trên nền tảng AI tại TP. Hồ ChíMinh (triển khai thử nghiệm tại Thủ Đức);bước đầu nghiên cứu, ứng dụng AI phục vụ dự báo mặn vàthíđiểm cho Sóc Trăng…

Bên cạnh đó, Tổng cục KTTV cũng đãphối hợp với các Viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu toán, AI cập nhật, đưa vào các công cụ mới để tăng cường tính tự động hóa trong việc thiết lập các loại hình bản tin dự báo KTTV vàđãbước đầu mang lại hiệu quả nhất định. 

Thuận lợi vàthách thức trong ứng dụng chuyển đổi số của ngành KTTV

Chuyển đổi số làđịnh hướng quan trọng của Đảng vàchính phủ trong phát triển nền kinh tế - xãhội của đất nước trong thời gian tới được thể hiện trong các nội dung của Văn kiện của Đại hội Đảng XIII;Nghị quyết số 52-NQ/TW của Ban Bíthư về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư;Quyết định số 749/QĐ-TTg phêduyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo nội dung của Quyết định này thìmỗi cơ quan, tổ chức vàcả quốc gia cần tận dụng tối đa cơ hội để phát triển Chính phủ số - kinh tế số - xãhội số. Trong đó, việc xác định sớm lộ trình vàđẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương cóýnghĩa sống còn, làcơ hội để phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương vànâng cao thứ hạng quốc gia. 

Bộ TN&MT ban hành quyết định số 417/QĐ-BTNMT ngày 10/3/2021, phêduyệt Chương trình Chuyển đối số TN&MT đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, tầm nhìn vàđịnh hướng trong việc quản lý, khai thác, điều hành thìcơ bản trên phương thức, quy trình, môhình của công nghệ số vàkết quả phân tích, xử lýdữ liệu số vàáp dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vànhân lực chất lượng cao. Tạo thế chủ động, hiệu lực, hiệu quả trong: Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên;bảo vệ môi trường;bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học;chủ động ứng phóvới biến đổi khíhậu, nước biển dâng;phòng chống vàgiảm nhẹ thiên tai;xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

Chuyển đổi số ngành Khí tượng Thủy văn trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
Bộ trưởng Bộ TN&MT Đặng Quốc Khánh cùng đoàn công tác kiểm tra hệ thống rada thời tiết tại Việt Trì, PhúThọ (Đài KTTV khu vực miền núi phía Bắc

Công tác chuyển đổi số ngành KTTV được Đảng vàChính phủ quan tâm chỉ đạo. Chỉ thị 10-CT/TW của Ban bíthư về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác KTTV đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc ban hành ngày 25/9/2021 đãxác định “đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến”làmột trong những nội dung quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả trong việc cảnh báo dự báo thời tiết, các thiên tai nguy hiểm, cung cấp sớm, kịp thời các thông tin KTTV đảm đưa ra các hoạt động ứng phókịp thời nhằm giảm nhẹ rủi ro thiên tai, phát triển KT-XH bền vững vàbảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Các nội dung chuyển đổi số trong lĩnh vực KTTV cũng được Chính phủ quan tâm, đưa vào các mục tiêu của ngành KTTV trong thời gian tới tại Quyết định số 1970/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt chiến lược phát triển Ngành KTTV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngày 23/11/2021 vàQuyết định số 1261/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ  phêduyệt đề án “Hiện đại hóa ngành KTTV đến năm 2025 vàthời kỳ 2026 -2030”ngày 27/10/2023.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vàcách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang diễn biến rất nhanh, đột phá, tác động sâu rộng vàđa chiều trên phạm vi toàn cầu. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Công nghệ số sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế số, xãhội số, làm thay đổi phương thức quản lýnhànước, môhình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng vàđời sống văn hóa, xãhội. Các công nghệ chủ chốt của Cách mạng công nghiệp 4.0 được nhanh chóng tiếp thu, thúc đẩy làcơ hội ứng dụng trong các chuỗi giátrị cho các ngành, các lĩnh vực trong đócóngành KTTV.

Các ứng dụng chuyển đổi số như big data, IOT, AI, máy học,... đang được nghiên cứu vàứng dụng ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực KTTV, tạo ra động lực phát triển ngành KTTV đáp ứng được với các nhu cầu của xãhội, đảm bảo sự phát triển bền vững của nhân loại trước các thách thức về BĐKH, thiên tai, dịch bệnh...

Công tác của ngành KTTV cónhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cótính đặc thù, liên vùng, liên ngành, xuyên biên giới. Thông tin KTTV làđầu vào quan trọng của các ngành, lĩnh vực KT-XH, phục vụ đời sống hằng ngày của người dân vàgóp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.  

Ngành KTTV Việt Nam cómạng lưới quan trắc được bố trítrên các vùng miền toàn quốc. Các mạng lưới quan trắc đang được dần chuyển từ thủ công sang tự động, nhằm đảm bảo các số liệu tin cậy kịp thời phục vụ công tác dự báo cảnh báo thời tiết vàthiên tai. Ngành KTTV đang chủ động tích cực nghiên cứu ứng dụng các công nghệ số của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 như IOT, Lora từng bước vào hệ thống quan trắc. 

Khối lượng dữ liệu lớn trung bình 17000 GB/năm làtiềm năng để ứng dụng các công nghệ big data, AI nhằm cải thiện độ chính xác, năng lực tính toán các bài toán thời tiết, thiên tai phức tạp đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khíhậu góp phần giảm nhẹ rủi ro thiên tai, phát triển bền vững KT-XH của đất nước. 

Vai tròcủa ngành KTTV trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định vàđược cộng đồng quốc tế ghi nhận, sẵn sàng hỗ trợ về chuyên gia vàkỹ thuật trong nâng cao năng lực quan trắc, dự báo cảnh báo KTTV. Đặc biệt, với vai tròlàcác Trung tâm khu vực Đông Nam Ácủa WMO về Dự báo, cảnh báo thời tiết nguy hiểm vàDự báo cảnh báo lũ quét Sạt lở đất, ngành KTTV Việt Nam sẽ tiếp tục được Tổ chức Khítượng thế giới quan tâm đầu tư chuyên gia, kỹ thuật trong đócóchuyển đổi số nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng cảnh báo dự báo thiên tai cho khu vực Đông Nam Á.

Chuyển đổi số làđịnh hướng ưu tiên chiến lược của Đảng vànhànước, làxu thế tất yếu của thế giới, tuy nhiên chuyển đổi số làhướng đi mới, nhiều công cụ chuyển đổi số mới dần được tiếp cận, phát triển vàứng dụng tại Việt Nam. Bởi vậy, trong tương lai việc ứng dụng chuyển đổi số của ngành KTTV cũng sẽ gặp không ít các thách thức, cụ thể:

Chuyển đổi số làmột vấn đề mới ở Việt Nam, bởi vậy nhận thức về chuyển đổi số chưa toàn diện, đồng đều ở các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Ngành KTTV cũng không phải ngoại lệ, mặc dùcông tác chuyển đổi số mới được đề cập vàđẩy mạnh trong những năm gần đây, tuy nhiên nhận thức về chuyển đổi số, ứng dụng chuyển đổi số, văn hóa chuyển đổi số cần nhiều thời gian để cán bộ KTTV tiếp thu vàthực hiện.

Văn hóa về phát triển, ứng dụng, sử dụng về chuyển đổi số chưa được phát triển căn cơ tại các cơ quan, tổ chức trên cả nước. Khókhăn của chuyển đổi số trong ngành KTTV chính làthay đổi thói quen từ truyền thống sang sử dụng công nghệ số, dữ liệu số, hoạt động trên môi trường mạng. Các thói quen cũ, vốn đãăn sâu vào tư duy vàcách thức làm việc hiện nay tạo ra sức ìrất lớn. Việc từ bỏ những phương thức làm việc quen thuộc vàtiếp cận với các công cụ, quy trình mới đòi hỏi một sự kiên nhẫn vàtinh thần sẵn sàng thay đổi mạnh mẽ. Đây không chỉ làvấn đề về kỹ thuật màcòn liên quan đến ýchívàvăn hóa của tổ chức.

Ngành KTTV hiện nay cónguồn nhân lực dồi dào, trải dài trên khắp cả nước tuy nhiên nguồn nhân lực về chuyển đổi số còn tương đối hạn chế, đặc biệt nguồn nhân lực liên quan tới công nghệ thông tin, công nghệ mới như IOT, AI, big data còn chưa nhiều. Với đặc thùvề các chính sách đãi ngộ của các cơ quan nhànước cùng với đặc thùcủa ngành KTTV, việc thu hút được các cán bộ công nghệ thông tin, viễn thông, viễn thám,... cótrình độ cao làm việc trong ngành đang làmột trong thách thức lớn trong thời gian tới.

Trong thời gian qua, cơ sở hạ tầng KTTV đãđược Đảng vàChính phủ quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vàcác mục tiêu phát triển vàchuyển đổi số của ngành để tạo ra các sản phẩm đáp ứng được với nhu cầu của xãhội, công tác giảm nhẹ rủi ro vàphát triển bền vững KT-XH của đất nước. Hiện nay tỉ lệ tự động hóa của hệ thống khítượng mới chỉ đạt gần 57% (trừ hệ thống đo mưa gần 100%);các yếu tố thủy văn như đo lưu lượng mới đạt chỉ khoảng 10%. Mật độ mạng lưới trạm quan trắc vẫn chưa đảm bảo đủ độ dày cần thiết. Hệ thống cơ sở dữ liệu còn thiếu vàchưa đảm bảo yêu cầu lưu trữ một lượng dữ liệu tương đối lớn phục vụ việc ứng dụng các công cụ big data hay AI. Ngay cả thời điểm hiện tại, dung lượng dữ liệu hàng năm của Ngành KTTV nhận được từ các hệ thống quan trắc, vệ tinh vào khoảng 17 nghìn GB (17 TB), chưa tính đến việc lưu trữ các số liệu của các môhình dự báo, tuy nhiên tổng dung lượng lưu trữ hiện còn lại của Ngành KTTV vào khoảng hơn 100 TB. Thêm vào đóhệ thống siêu máy tính XCRAY 40 mới được trang bị cóhiệu năng tính toán cao, tuy nhiên chỉ tương đương các quốc gia cónền KTTV phát triển như Hàn Quốc cách đây 20 năm. Cơ sở hạ tầng chuyển đổi số lànền tảng quan trọng cho việc chuyển đổi số thành công, bởi vậy phát triển cơ sở hạ tầng chuyển đổi số làmột trong những thách thức không nhỏ cho ngành KTTV.

Nhu cầu xãhội ngày càng cao về các sản phẩm thời tiết phục vụ các hoạt động sản xuất sinh hoạt, đồng thời các thông tin dự báo cảnh báo thiên tai chính xác, kịp thời phục vụ công tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai  cũng làáp lực đáng kể đối với ngành KTTV trong thời gian tới, đòi hỏi sự nỗ lực thay đổi đột phácủa ngành, đặc biệt trong công tác ứng dụng chuyển đổi số. Sự thay đổi, phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi ngành KTTV phải đổi mới sáng tạo, tiếp cận vàứng dụng thành thạo các công nghệ mới nếu không muốn tụt hậu phía sau.

Định hướng vàgiải pháp chuyển đổi số ngành KTTV Việt Nam trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai vàứng phóvới biến đổi khíhậu
Định hướng, giải pháp chính trong việc phát triển chuyển đổi số ngành KTTV trong giai đoạn tới cần thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số toàn diện trong 3 nhóm nội dung công việc: Điều hành tác nghiệp, Nguồn lực, chính sách;Công nghệ vàNhận thức. Ba nhóm nội dung này cómối quan hệ tương hỗ lẫn nhau nên cần được quan tâm phát triển đồng thời. Trong đó:

Nhóm điều hành tác nghiệp bao gồm các nhóm công việc về: Quản lý, điều hành;quan trắc;thông tin dữ liệu;cảnh báo, dự báo.

Nhóm nguồn lực chính sách bao gồm: Nguồn nhân lực;quy trình, chính sách

Nhóm công nghệ vànhận thức bao gồm: Nghiên cứu vàhợp tác quốc tế;nâng cao nhận thức.

Nhóm điều hành tác nghiệp

Công tác quản lý, điều hành: Ứng dụng công nghệ vào quản lý, điều hành tác nghiệp KTTV liên thông từ Trung ương đến địa phương;Triển khai các hệ thống hỗ trợ điều hành, quản lýnhân sự, quản lýtài sản, phòng họp không giấy trực tuyến.

Công tác quan trắc KTTV: Chuyển đổi toàn diện công tác quan trắc thủ công sang phương thức mới theo xu hướng tự động;Ứng dụng các công nghệ quan trắc tiên tiến như Radar, vệ tinh,…vàtăng cường hợp tác chuyên môn để nâng cao năng lực xử lýdữ liệu quan trắc;Ứng dụng trítuệ nhân tạo (AI) vào Camera quan trắc mưa vàmực nước;Thiết bị, cảm biến hỗ trợ IoT;Công nghệ truyền dẫn thế hệ mới (5G, LPWAN).

Công tác Thông tin Dữ liệu KTTV

Phát triển hạ tầng số: Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin của Tổng cục KTTV ở tất cả các cấp Trung ương vàĐịa phương;Ảo hóa hạ tầng hướng tới xây dựng các hệ thống cloud cho nghiệp vụ;Tăng cường an toàn, an ninh thông tin, bảo mật dữ liệu, an ninh mạng cho các hệ thống công nghệ thông tin của Tổng cục KTTV;tối ưu hóa hạ tầng công nghệ thông tin hiện cótại Tổng cục KTTV vàcác Đài KTTV khu vực;Xây dựng phương án dự phòng cho các hoạt động công nghệ thông tin vàtruyền tin;

Phát triển dữ liệu số: Xây dựng, hoàn thiện vàvận hành hệ thống quản lý, chia sẻ dữ liệu tập trung của Ngành KTTV;

Quy hoạch Dữ liệu theo hướng phân cấp: Các dữ liệu quan trọng trong vàngoài Ngành KTTV: Lưu trữ vàquản lýtại Data Center của Tổng cục KTTV;Các loại dữ liệu cóliên quan khác không sử dụng thường xuyên: Sử dụng hạ tầng số của Bộ TN&MT vàliên kết với LGST của Bộ TN&MT để khai thác, sử dụng. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về KTTV vàsố hóa tư liệu giấy KTTV.

Phát triển nền tảng số: Xây dựng cổng thông tin điện tử tích hợp nhiều dịch vụ cho Tổng cục KTTV vàphát triển, hoàn thiện ứng dụng di động phổ biến thông tin dự báo, cảnh báo;Tích hợp toàn diện nền tảng số của Tổng cục KTTV với dịch vụ chia sẻ dữ liệu (LGSP) của Bộ Tài nguyên vàMôi trường;Quy hoạch rõnhững loại dữ liệu nào chia sẻ qua LGSP;Ứng dụng các công nghệ AI, Bigdata vào quản lý, phân phối dữ liệu trên nền tảng phần mềm mãnguồn mở nổi tiếng.

Bảo đảm an toàn, an ninh mạng: Quy định đảm bảo an toàn, an ninh cho từng nhóm cấp độ tương ứng của Tổng cục KTTV;Đầu tư công nghệ, thiết bị, phần mềm để đáp ứng yêu cầu của từng nhóm cấp độ an toàn an ninh;Chuyển đổi toàn diện các công cụ phục vụ dự báo sang phương thức điện tử vàtheo xu hướng tự động;Ứng dụng AI vào các khâu quan trọng của dự báo gồm: (i) chuẩn bị dữ liệu đầu vào cho các công cụ dự báo;(ii) lựa chọn phương thức/kết quả dự báo;(iii) phân tích hành vi người dùng dịch vụ để dự báo hướng đối tượng;Xây dựng nền tảng dự báo trực tuyến cho tất cả các cán bộ dự báo viên cóthể thao tác từ xa vàlinh hoạt.

Nhóm nguồn lực chính sách

Phát triển nguồn nhân lực: Xây dựng vàtriển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao về số lượng, chất lượng từ tuyển dụng, đào tạo đến đào tạo lại, ..;Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao về số lượng, chất lượng từ tuyển dụng, đào tạo đến đào tạo lại, ..: Tuyển dụng chính thức (cần làm từng bước kết hợp với việc cải thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ);Tuyển dụng thực tập sinh (từ năm 4) khoa CNTT của các trường Đại học;Chương trình liên kết với các trường Đại học, học viện đào tạo chuyên ngành Công nghệ thông tin vàViễn thông để tạo nguồn nhân lực lâu dài (Tổng cục tham gia vào bước đào tạo thực hành);Thành lập các nhóm công tác cho từng công việc chuyên môn cụ thể vàthường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo nội bộ vàmời các chuyên gia trong lĩnh vực nhóm phụ trách giải đáp các vấn đề phát sinh trong quátrình vận hành. Xây dựng các chính sách đặc thùnhằm thu hút vàduy trìđội ngũ cán bộ cótrình độ khoa học, công nghệ cao của Tổng cục.

Hoàn thiện quy trình/chính sách: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng hỗ trợ vàphùhợp với xu hướng khoa học, công nghệ;Hoàn thiện hệ thống quy trình hướng dẫn vận hành các thiết bị, công nghệ mới được đưa vào sử dụng.

Nhóm công nghệ vànhận thức

Nghiên cứu khoa học vàHợp tác quốc tế: Ứng dụng các sản phẩm công nghệ nổi tiếng của thế giới vào các bài toán cụ thể của lĩnh vực KTTV;Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ 4.0 như Trítuệ nhân tại (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) vào các công việc chuyên môn nghiệp vụ cũng như quản lý, điều hành;Tăng cường tuyên truyền, phát động phong trào ứng dụng khoa học, công nghệ trong công việc hàng ngày. Phát triển các chương trình hợp tác quốc tế về ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực KTTV;Tìm kiếm các chương trình hợp tác đầu tư song phương, đa phương cho lĩnh vực KTTV vàưu tiên chính cho việc đầu tư công nghệ.

Nâng cao nhận thức: Nâng cao hiểu biết của cán bộ Tổng cục KTTV về Chuyển đổi số, về các công nghệ mới đặc biệt làcông nghệ thuộc nhóm 4.0: Tổ chức các hội thảo/buổi trao đổi/phổ biến kiến thức định kỳ cho các đơn vị trong Tổng cục về ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt làcông nghệ 4.0 trong lĩnh vực thông tin dữ liệu;Tổng hợp các tài liệu, video hay về ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt làcông nghệ 4.0 trong lĩnh vực thông tin dữ liệu để thường xuyên phổ biến cho các đơn vị trong Tổng cục.

Nguồn: www.tainguyenvamoitruong.vn

Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC

ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang